Nguồn gốc của Khí công - Thiền Phật Giáo

Khí công đã có ở Trung Quốc từ khoảng 5000 năm trước (Mã Tế Nhân), nhưng không được phổ biến rộng rãi, và chỉ được truyền dạy trong khuôn viên đền chùa hay võ đường.

Ngay ở thể kỷ này, những bậc thầy khí công cũng chỉ truyền đạt cho con trai hay một số người thân tín; do đó, đã có một thời Khí công được coi như một môn luyện tập thần bí.

Khí công lấy Kinh Dịch với nguyên lý Âm Dương, rồi sau đó là thuyết Ngũ hành làm cơ sở chính.

 

Người sang lập ra Kinh dịch là Vua Phục Hy (4477 – 4363 TCN) lập ra Hà Đồ, Tiên Thiên Bát Quái và Trùng Quái với 64 quẻ; sau đó Đại Vũ ở thời nhà Hạ (2205 – 1766 TCN) lập ra Lạc Thư. Hơn 1000 năm sau, dưới đời nhà Chu (1100 – 22 TCN), Chu Văn Vương dùng văn tự để giải thích các quẻ (thoán từ) và lập ra Hậu thiên Bát quái, rồi đến Chu Công Đán (Chu Công) đặt ra hào từ hay tượng cho mỗi quẻ.

Bộ sách nổi tiếng vận dụng Âm Dương vào Y học là cuốn “Hoàng Đế Nội Kinh” trong đó nói: “Âm Dương là đạo của Trời Đất, giềng mối của muôn vật, cha mẹ của biến hóa” lấy “sinh trưởng thu tàn” của bốn mùa làm nguồn gốc bảo dưỡng mạng sống.

Hoàng Đế Nội Kinh mang tên vua Hoàng Đế, một thủy tổ của Trung Quốc, sống vào khoảng 4670 năm trước đây, nhưng thực ra sách không thể ra đời sớm như vậy. Các học giả cho rằng bộ sách này được viết vào thời Tần – Hán và do một tập thể hoàn thành.

Hoàng Đế Nội Kinh đề cập tới Khí dưới nhiều nghĩa khác nhau; trong đó có chức năng của tạng-phủ; phần bổ ích cho khí công chính là chương bàn về kinh mạch bệnh.

 

Thuyết Ngũ hành dựa vào nguyên lý Âm Dương của Thái cực lập ra. Thái cực động sinh Âm Dương, Âm Dương biến hóa, Dương biến, Âm hợp tuần tự sinh ra Ngũ hành: Thủy rồi Hỏa, Mộc, Kim, Thổ.

Ngũ hành phối hợp với vạn vật và vận hành theo quy luật tương sinh tương khắc để thúc đẩy sự biến hóa. Dựa vào quy luật này, Khí công lập ra một số phương pháp tập luyện.

Hotline: 0987 203 556

DMCA.com Protection Status