Có lẽ quá xa xưa, thuở các vị vua hiền đức và tài năng như Thần Nông, Phục Hi, Hoàng Đế.. đã có người am hiểu tận tường về môn học này. Có nhiều người luyện tập và coi như một phép dưỡng sinh cần thiết tối yếu. Chính nó bắt nguồn và song hành phát triển cùng môn học Châm Cứu, một môn Y Học giá trị ngày nay đang được các Bác Sĩ trên Thế giới gia tâm nghiên cứu thực hành v.v…

Bát Đoạn Cẩm giúp đả thông kinh mạch, luyện gân cốt, khai thông khí huyết khắp mọi nơi trong cơ thể giúp cho người tập có được một thân thể cường tráng, tiêu trừ bệnh tật và một tinh thần minh mẫn sáng suốt.

Tác dụng và các tư thế trong khí công Bát Đoạn Cẩm

1.  Lưỡng thủ kình thiên lý tam tiêu (Hai tay chống trời điều hòa tam tiêu)

Tác dụng:

Tam tiêu bao gồm thượng tiêu, trung tiêu và hạ tiêu.

Thượng tiêu: vị trí từ đầu cho đến hoành cách mô liên quan đến hệ tuần hoàn và hô hấp.

Trung tiêu: vị trí từ hoành cách mô cho đến rốn liên quan đến hệ tiêu hóa.

Hạ tiêu: vị trí từ rốn cho đến bộ phận sinh dục liên quan đến hệ bài tiết.

Luyện thông tam tiêu giúp người tập có được trí tuệ minh mẫn, sáng suốt, ăn ngon ngủ yên, một cơ thể cường tráng tiêu trừ các bệnh tật.

2.  Tả hữu khai cung tự xạ điêu (Trái phải giương cung như bắn chim điêu)

Tác dụng: Luyện thần (nhắm bắn chim điêu), tăng cường chức năng phổi (ngực căng ra khi bắn), gia tăng khí lực nơi tay (giương cung) và đới mạch (giúp khí thông hai bên thận).  Đồng thời giúp cho đôi chân được khoẻ mạnh cứng cáp qua thế đứng trung bình tấn hay còn gọi là kỵ mã tấn.

Khí công bát đoạn cẩm - Tả hữu khai cung tự xạ điêu 
Khí công bát đoạn cẩm – Tả hữu khai cung tự xạ điêu

3.  Điều lý tỳ vị đơn cử thủ (Điều hoà tỳ vị, một tay đẩy lên)

Tác dụng: “Làm gia tăng chức năng của Can (gan), giúp Tỳ Vị (dạ dày và lá lách) khí lưu thông.  Giúp ăn ngon, ngủ được, và đại tiểu tiện thông suốt.”

4.  Ngũ lao thất thương vọng hậu tiền (Liếc nhìn phía sau, xua đi sự hao mòn sức khỏe)

Tác dụng:

Ngũ lao liên quan đến sự suy yếu của 5 cơ quan nội tạng trong cơ thể như: tâm, can, tỳ, phế, thận.

Thất thương: thương tổn gây ra bởi sự xáo trộn của tinh thần qua 7 cảm xúc: hỷ, nộ, ái, ố, bi, lạc, dục.

Theo Đông Y, con người có thể trở nên bệnh nếu như ngũ tạng bị suy yếu và tinh thần bị xáo trộn.  Chẳng hạn như sự nóng giận có thể làm bế khí nơi gan và ảnh hưởng đến chức năng hoạt động của gan. Nhưng không phải chỉ có các cơ quan nội tạng bị ảnh hưởng, một xáo trộn mạnh trong các cảm xúc cũng khiến cho khí bị tích tụ và dồn nén lên trên đầu.

Khi ta xoay đầu qua hai bên thì các bắp thịt và các động mạch máu nơi cổ được thả lỏng, giúp cho khí lưu chuyển lên đầu và đồng thời cũng giúp tăng lưu lượng máu vào não bộ.  “Giúp điều hòa chức năng vùng hành não, trong đó có các trung tâm kiểm soát hệ thần kinh thực vật giao cảm, đối giao cảm, và từ đó tăng chức năng các tạng phủ.”

Tập thế này thường xuyên sẽ giúp hành giả điều khí ở các cơ quan nội tạng và bộ đầu, điều dưỡng lại các tổn thương do các xúc cảm gây nên và giúp tiêu trừ các bệnh tật.

5. Dao đầu bài vĩ khử tâm hỏa (Lắc đầu vẫy đuôi dứt bỏ tánh nóng nảy)

Tác dụng: Hỏa (trược khí) nơi trung đan điền sinh ra do thức ăn không tiêu, hít thở không khí không trong sạch hay thiếu ngủ.  Nếu như xảy ra thường xuyên thì sinh ra chứng ợ nóng hay còn gọi là tâm hỏa. Khi quá nhiều khí tích tụ và ứ động nơi đan điền hoặc tim, thì phương cách tốt nhất là chuyển hỏa khí này vào hai buồng phổi để được dung hòa và đào thải ra ngoài.

Theo thuyết ngũ hành thì hỏa khắc kimtuy nhiên kim có thể hấp thụ được sức nóng và kềm chế được hỏa. Phổi thuộc hành kim, tim thuộc hành hỏa nên có thể nói Phế Kim có thể làm dịu đi Tâm Hỏa. Và kết quả là tâm được thanh thản.

Người tập giữ hai tay trên đầu gối với ngón cái hướng ra ngoài thì ngực được giãn ra, và khi hành giả chuyển thân người từ bên này sang bên kia thì tuần tự hai bên phổi được thả lỏng cho nên dễ thu hút hỏa khí và làm dịu đi từ từ.

Thế tập nầy cũng giúp gia tăng lượng máu lưu thông nơi chân giúp điều trị chứng bệnh tê và nhức mỏi nơi chân.

6. Lưỡng thủ phan túc cố thận eo (Hai tay kéo hai chân bền thận eo)

Tác dụng: Giúp vận khí tại thân và đốc mạch, tăng cường tinh và giúp gân cốt được mềm mại, dẻo dai.

Khi cúi thân người xuống, hai tay nắm lấy đầu ngón chân (hoặc xuống thấp tuỳ theo thể chất của mỗi người) thì bắp thịt sau lưng bị căng làm gián đoạn sự vận chuyển của khí nơi vùng lưng, thận.

Khi đứng thẳng lên thì khí được khai thông trở lại bình thường cũng giống như ống nước đang chảy bị gấp lại rồi được buông thẳng ra.  Đây là phương pháp tốt nhất để kích thích (xoa bóp) thận và giúp gia tăng luồng khí chuyển vào thận, cũng như các bắp thịt lưng và xương sống.

7. Vận quyền nộ mục tăng khí lực (Nắm chặt quyền, mắt giận, tăng khí lực)

Khí công bát đoạn cẩm - Vận quyền nộ mục tăng khí lực
Khí công bát đoạn cẩm – Vận quyền nộ mục tăng khí lực

Tác dụng: Giúp gia tăng thị lực (tập trung nhìn vào bàn tay nắm), kích thích gan.  “Làm tăng khí lực do tay chân và thân eo kết nối với nhau.” Khi thần mạnh thì đồng thời khí lực cũng gia tăng.  Phương pháp nầy rất quan trọng vì nó khai thông được bế khí và dẫn khí ra ngoài da.  Tập trung “ý” là điểm chính yếu cần phải ghi nhớ trong thế tập.

8. Kiễng túc, nâng đầu tiêu bách bệnh  (Nhón gót nâng đầu tiêu bách bệnh)

Tác dụng:  “Vận khí trên toàn bộ kinh mạch bằng cách tác dụng lên toàn thân và cột sống.  Các kinh mạch căng ra và thu vào như sợi dây thừng. Kiễng chân lên và hạ chân xuống kích thích 6 túc kinh, vươn cổ lên kích thích 6 thủ kinh”. Giúp tăng sinh lực, bền sức, giúp thân thể cường tráng và các bệnh tiêu tan.

Trải qua bao thế kỷ, Bát Đoạn Cẩm đã được biến đổi khá nhiều theo từng môn phái nhưng nói chung thì hình thức tuy có khác nhưng nội dung cốt tuỷ của sự luyện tập cũng đều gần giống như nhau.

Mời quý vị đạo hữu xem thêm các bài viết về khí công, thiền khác để có thể hiểu hơn:

Hotline: 0987 203 556

DMCA.com Protection Status